Thứ Hai :

Ga 3,1-8

 

A. Hạt giống…

Phụng vụ dùng cuộc Đối thoại của Chúa Giêsu với Nicôđêmô làm bài giáo lý thứ nhất, dạy về Bí tích Rửa tội (Bí tích tái sinh) :

Bài Tin Mừng hôm nay dạy về sự cần thiết phải sinh lại :

– Nicôđêmô là “một đầu mục của người do thái”, nghĩa là về mặt xã hội ông là bậc cao niên đáng kính, về mặt tôn giáo ông là người có học thức và đạo đức. Dù vậy ông vẫn tìm đến Chúa Giêsu để học hỏi thêm.

– Điều đầu tiên Chúa nói với ông là sự cần thiết phải sinh lại : “Thật, tôi bảo cho ông biết : Nếu ai không sinh lại bở trên thì chẳng được thấy Nước Thiên Chúa”.

– “Sinh lại” không theo nghĩa thể lý (“Một người đã già làm sao có thể sinh lại ? Không lẽ người ấy lại vào lòng mẹ mà sinh ra lần nữa sao ?”),mà theo nghĩa thiêng liêng (“Sự gì sinh bởi huyết nhục thì là huyết nhục, và sự gì sinh bởi thần linh thì là thần linh”.

 

B…. nẩy mầm.

  1. Maurice Zundel đã viết : “Chúng ta không sinh ra đã thành người (…) Con người có bổn phận phải thành người (…) Sách Tin Mừng nói “phải sinh lại”. Có một lần sinh thứ hai, đó là sinh con người, sinh phẩm cách, sinh tính bất khả xâm phạm, sinh sự trường tồn bất tử, lần sinh mà không có nó không thể thành người” (Trích “Sự hiện diện khiêm hạ”).
  2. Một người như Nicôđêmô, vừa cao niên, vừa thông thái, vừa đạo đức, thế mà Chúa Giêsu bảo ông cần phải sinh lại. Huống chi là tôi, bởi vì trong tôi hiện còn rất nhiều điều chưa đáng là người, đó là chưa xét tới có đáng là kitô hữu hay không.
  3. Bí tích Rửa tội đã sinh lại tôi làm người con Chúa. Nhưng “làm con Chúa” chỉ mới là một hạt giống, tôi cần phải vun trồng cho phát triển thành cây. Huống chi người “con của Chúa” ấy với thời gian đã bị người “con của thế gian” chèn ép khiến trở nên èo uột, méo mó. Bởi vậy tôi cần phải sinh lại nhiều lần. Hôm nay tôi phải sinh lại lần nữa.
  4. Một nhà đại thần bí Ấn độ nói về chính mình : “Tôi là một nhà cách mạng khi còn trẻ, và tất cả những gì tôi cầu nguyện với Chúa là : “Lạy Chúa, xin cho con quyền lực để cải tạo thế giới”

Khi đến tuổi trung niên, tôi nhận ra rằng nửa cuộc đời qua đi mà không một tâm hồn nào được thay đổi. Tôi đổi lại lời cầu : “Lạy Chúa, xin cho con thiện chí để hoán cải tất cả những người tiếp xúc với con.

Bây giờ tôi đã già và gần kết thúc cuộc đời. tôi cảm thấy mình ngu dại biết bao. Lời câu nguyện của tôi bây giờ là  : “Lạy Chúa, xin cho con thiện chí để hoán cải chính con”. Nếu tôi xin điều này ngay từ đầu, tôi đã không lãng phí cuộc đời” (Góp nhặt)

  1. “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”

Một buổi chiều năm 1953, các ký giả và mọi người tập trung tại nhà ga xe lửa ở Chicago để chào đón người được giải thưởng Nobel Hoà Bình 1952. Các nhân vật cao cấp của thành phố dang rộng tay để chúc mừng vị thượng khách.

Ông cám ơn mọi người, rồi đưa mắt nhìn quanh sân ga. Bất chợt, ông xin kiếu mọi người rồi băng qua đám đông, tiến thẳng đến đỡ một cụ già không quen biết và chiếc va li nặng trên tay bà. Ông mỉm cười, dẫn bà lên xe và không quên chúc bà thượng lộ bình an. Quay lại với đám đông, ông xin lỗi vì bắt họ phải chờ đợi ! Người được giải thưởng đó chính là bác sĩ Albert Schweitzer, nhà truyền giáo nổi tiếng đã hy sinh cả cuộc đời cho những người nghèo tại Phi Châu. Thấy thế, một người đã thốt lên : “Lần đầu tiên tôi nghe được một bài giảng biết đi”.

Là người Kitô hữu, tôi được mời gọi loan báo tin mừng và tôi phải là “những bài giảng sống động và biết đi” về tình yêu Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin cho  con không chỉ loan báo Lời Chúa bằng những lời nói suông nhưng bằng những nghĩa cử, bằng cả cuộc sống của con. (Epphata)